Phụng Vụ Lời Chúa: Mùa Chay tuần 4

Trọng kính Cộng đồng Dân Chúa,
Như thường lệ chúng ta trước hết hãy theo dõi bài suy niệm và chia sẻ 
CN 4 Mùa Chay
mở đầu cho Tuần 4 Mùa Chay của Đức TGM Ngô Quang Kiệt,
sau đó chúng ta tiếp tục với toàn bộ PVLC kèm theo các bài chia sẻ cùng hạnh các thánh ở những đường kết nối từng ngày trong tuần.
NGƯỜI CHA NHÂN HẬU  
I.TẤM BÁNH LỜI CHÚA
- Gs 5,9a.10-12
- 2Cr 5,17-21
Lc 15, 11-32
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
Ta thường gọi là dụ ngôn “Người con hoang đàng”. Cách gọi này không được chính xác. Trước hết vì sự trở về của đứa con không đáng làm khuôn mẫu cho ta. Hơn nữa, xét theo bối cảnh và nội dung, Chúa Giêsu, khi kể dụ ngôn này, có ý đề cao tình yêu thương, lòng khoan dung nhân hậu của người cha. Bối cảnh: Nhóm Pharisêu và các kinh sư chê trách Chúa Giêsu vì Người ngồi ăn với những kẻ tội lỗi. Để trả lời họ, Chúa Giêsu kể một chuỗi 3 dụ ngôn: Con chiên đi lạc, Đồng bạc bị mất và Người cha nhân hậu. Nội dung: Có thể coi đây là một vở kịch 2 màn.
MÀN 1: NGƯỜI CHA VÀ ĐỨA CON ÚT.
Đứa con ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân.
Sự ích kỷ được biểu lộ trước hết trong việc xin chia gia tài.  nhà chung mà chỉ nghĩ đến vun quén riêng. Không đóng góp mà chỉ muốn rút rỉa. Không làm việc mà chỉ muốn hưởng thụ. Sự ích kỷ đạt đến mức tồi tệ đáng kinh tởm khi nó dám mở miệng xin chia gia tài. Theo truyền thống phương đông, gia tài chỉ được chia sau khi cha mẹ đã qua đời. Xin chia gia tài lúc cha mẹ còn sống có khác nào cầu mong cha mẹ mau chết đi! Có tiền bạc trong tay, nó bắt đầu ăn tiêu phung phí. Cách ăn tiêu nói lên tính ích kỷ của đứa con. Nó tiêu tiền mà không nghĩ gì đến mồ hôi nước mắt của cha mẹ. Nó tiêu tiền chỉ để thoả mãn dục vọng. Nó dùng tiền bạc để cung phụng bản thân. Khi có tiền nó chẳng nghĩ đến ai, nên khi hết tiền, chẳng còn ai gắn bó, sẵn sàng giúp nó qua cơn túng thiếu. Túng cùng quá mới phải trở về. Sự ích kỷ vẫn còn đó trong toan tính trở về. Nó không hề nghĩ đến cha mẹ. Nó không hề nghĩ đến tình thương. Nó chỉ nghĩ đến cái bụng. Về nhà để được ăn no. Chỉ có thế.
Người cha hoàn toàn quên mình vì con.
Khi đứa con xin chia gia tài, ông đã chia ngay, không so đo tính toán, không hạch sách khó khăn. Ông không nghĩ đến bản thân, không tự ái, chỉ mong sao con cái được vui lòng. Khi con đã ra đi, ông ngày đêm thương nhớ, ngày nào cũng ra ngõ đứng chờ. Thật tội nghiệp, con ra đi chẳng nhớ nhung gì đến cha mà cha không phút giây nào ngừng thương nhớ con. Con chỉ biết tìm vui cho bản thân trong khi cha mỏi mòn trông đợi. Con chỉ biết đến tiền bạc, còn cha chẳng quan tâm gì đến tiền của, nhưng chỉ cần có con. Cảm động nhất và cũng chan chứa tình thương nhất là phút giây gặp gỡ. Một phút giây vắn vỏi mà nói lên bao nhiêu điều về tình thương của cha. “Anh ta còn ở đàng xa thì người cha đã trông thấy”. Khi con chưa nhìn thấy cha thì cha đã nhìn thấy con. Mắt chàng trai trẻ hẳn phải tinh anh hơn mắt ông cụ đã nhoà dòng lệ vì thương nhớ chứ. Thế mà cha đã nhìn thấy con trước. Vì cha không nhìn bằng mắt nhưng nhìn bằng trái tim. Trái tim yêu thương có đôi mắt tinh tường giúp nhận ra ngay bóng người yêu dấu. Trái tim con không còn yêu thương nên nhìn mà chẳng thấy cha. Trái tim con khô cằn nên mắt vẫn sáng mà chẳng khác mù loà. Trái tim cha đầy ắp yêu thương nên đã loà rồi mà vẫn thấy rõ con ngay từ đàng xa.  “Ông chạnh lòng thương”. Trái tim dạt dào yêu thương quên hết tất cả lầm lỗi của đứa con. Tình cảm đầu tiên dâng lên trong tim ông không phải là tiếc xót nửa gia tài đã mất, cũng không phải là tức giận thằng con phá gia chi tử, nhưng lại là chạnh lòng thương. Yêu quá nên người cha chẳng còn nhìn thấy gì khác hơn là đứa con tiều tuỵ rách rưới. Yêu quá nên người cha chẳng nhìn thấy lầm lỗi mà chỉ nhìn thấy nỗi khổ của con. Trong trái tim ông, chỉ có tình thương dành cho con, nên vừa gặp con là tim đã rộn ràng xúc động. “Chạy lại ôm cổ con”. Lại một cử chỉ lạ lùng. Cha không chờ con tới theo đúng lễ phép mà đã vội vàng chạy lại ôm con. Tình yêu thương thúc đẩy, niềm vui dâng dạt dào khiến người cha không chần chờ được nữa. Bất chấp thân phận cao quý của mình, ông chạy đi như một đứa trẻ được quà. Bất chấp tuổi tác của mình, ông nhanh nhẹn như một thanh niên sung sức. Đứa con tuổi còn trẻ mà sao chẳng nhanh nhẹn bằng ông già? Vì trong tim nó thiếu tình yêu. Trái tim không tình yêu cũng giống như cơ thể không sức sống. Ông già mà nhanh nhẹn vì ông không chạy bằng sức lực của đôi chân. Ông chạy bằng trái tim. Ông bay bằng tình yêu. Tình yêu chắp cánh cho ông.    “Hôn lấy hôn để”. Chẳng còn bút nào tả xiết niềm vui của người cha khi gặp lại đứa con. Những nụ hôn không ngớt đủ nói lên tình cảm dạt dào ông dành cho nó. Ông ôm chặt như để giữ không cho nó ra đi nữa. Trong một thoáng, khi đứa con chưa có một động tác nào thì người cha đã có 4 động tác: nhìn thấy, chạnh lòng thương, chạy đến, ôm hôn. Trong một thoáng ngắn ngủi, khi chàng trai tuổi trẻ còn bất động thì ông lão già nua đã thực hiện 4 động tác rất nhanh nhẹn. Ông thật là người cha phung phí. Ông đã phung phí sức lực trong cuộc gặp gỡ với đứa con trở về. Ông đã phung phí tiền bạc khi chia gia tài một cách dễ dãi. Ông đã phung phí khi đem áo mới, giầy mới, nhẫn vàng, lại còn tổ chức một bữa tiệc mừng có bê béo, có cả đàn hát múa nhảy để đón đứa con đi hoang trở về. Làm thế chẳng sợ hàng xóm cười cho! Nói tóm lại ông đã phung phí tình yêu thương. Yêu thương quá độ. Yêu thương đến vô lý. Mà có lý lẽ nào giải nghĩa được yêu thương? Chỉ có tình yêu thương mới giải nghĩa được những điều vô lý đó.  
MÀN 2: NGƯỜI CHA VÀ ĐỨA CON CẢ.
Đứa con cả đi hoang trong tâm hồn.
Đứa con cả vẫn ở nhà, nhưng thực ra chỉ có thân xác ở nhà, còn tâm hồn nó đã đi hoang từ lâu. Tuy ở trong gia đình, nhưng tâm hồn nó không thuộc về gia đình. Nó làm việc không phải với tâm tình của một người con hiếu thảo coi “mọi sự của cha là của con”. Nó muốn vun quén riêng tư. Nó làm việc với tinh thần nô lệ, mong được trả công, chỉ nghĩ đến con “bê nhỏ”, đến “bạn bè” riêng của nó. Sống bên cha mà tâm hồn nó xa tâm hồn cha biết bao. Nó không sao chia sẻ được những tình thương, những ưu tư, hoài bão của cha. Cha là tình thương nhưng con chỉ là ích kỷ. Cha là bao dung nhưng con chỉ là hẹp hòi. Tâm hồn cha rộng mở bao nhiêu thì tâm hồn con khép kín bấy nhiêu. Cha chỉ biết tha thứ trong khi con chỉ biết kết án. Thật là khác biệt ngàn trùng.
Cha đi tìm con Một lần nữa, người cha lại phải bỏ nhà ra đi, bỏ dở bữa ăn để tìm đứa con đi hoang trong tâm hồn. Vẫn với cử chỉ dịu dàng cố hữu; vẫn với những lời lẽ ôn tồn; vẫn với ánh mắt chan chứa cả một trời bao dung, cha cố gắng thuyết phục đứa con cả trở về. Nếu đứa con út cần một cuộc trở về thì đứa con cả cần tới hai cuộc trở về: về với cha và về với em. Đi hoang trong tâm hồn xa xôi diệu vợi thế! Qua dụ ngôn này Chúa cho thấy dù tôi là con út hay con cả, tôi vẫn cần trở về. Vì nếu tôi chưa đi hoang trong đời sống, chắc chắn đã rất nhiều lần tôi đi hoang trong tâm hồn: suy nghĩ và hành động của tôi khác hẳn với đường lối của Thiên chúa là Cha; tôi vẫn không muốn chấp nhận anh em tôi. Nhưng dụ ngôn cũng cho tôi an tâm trở về. Hình ảnh người cha hiền đứng đợi mời gọi tôi mau bước. Chúa là người Cha yêu thương tôi trước khi tôi yêu Người, đi tìm tôi trước khi tôi đi tìm Người, tha thứ cho tôi trước khi tôi xin lỗi Người. Lạy Chúa là Cha nhân từ, con cảm tạ tình yêu thương vô vàn của Cha. Xin cho con biết mau mắn trở về với Cha.  
III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU

1. Xét mình, bạn thấy mình giống ai trong hai người con trong bài Tin mừng?

2. Bạn có thấy tình yêu thương của người cha không?

3. Bạn có cảm nghĩ gì sau khi đọc dụ ngôn “Người Cha nhân hậu” này?

4. Bạn có cần sám hối để trở về với Chúa là Cha không?



Tuần IV Mùa Chay
(xin bấm vào hàng chữ trên để theo dõi các bài chia sẻ PVLC hàng ngày
và hạnh các thánh tùy ngày trong tuần)

Đấng toàn thiện tự giao hòa với tội nhân: 

 

https://youtube.com/live/mZl99xWV_Vw
MC.CN4-C.mp3 / 
https://youtu.be/HqgL-F8iIhQ
DTCPhanxico-HuanTuTruyenTinCNIV-C.mp3 / https://youtu.be/4IDYqG44Y3I
MC.IV-2.mp3
MC.IV-3.mp3
MC.IV-4.mp3 
MC.IV-5.mp3
MC.IV-6.mp3
ThanhIsidoreGiamMucTienSi.mp3 / 
https://youtu.be/YDvBDYkIqlQ (4/4)
MC.IV-7.mp3
ThanhVincentFerrier.mp3 / 
https://youtu.be/klHNK7Rer4w (5/4)

0

Suy niệm

Sự Sống hứa hẹn

Hành trình Mùa Chay 40 ngày bắt đầu tiến tới tuần lễ Thứ Tư, với Chúa Nhật hôm nay đây. Và phụng vụ lời Chúa cho Chúa Nhật Thứ Tư Mùa Chay hôm nay dường như có tính cách hân hoan vui vẻ hẳn lên, không còn những gì là âu sầu buồn bã theo chiều hướng của Mùa Chay nữa.

Thật vậy, ngay trong Bài Đọc 1, luồng gió tươi mát và nắng hồng của mùa xuân như thổi vào mùa đông và làm ấm áp mùa đông hẳn lên. Ở chỗ, cuộc hành trình 40 năm vô cùng cực khổ và quá dài trong sa mạc khô cằn đầy những gian nan thử thách khôn lường cho một dân tộc đông cả trên 2 triệu con người (xem Xuất Hành 12:37), sau khi ra khỏi Ai Cập và vượt qua Biển Đỏ cùng Sông Jordan, dân Do Thái cuối cùng đã tiến tới đích điểm của mình là chính mảnh Đất Hứa.

Mảnh đất tiền định này đã được Thiên Chúa hứa với tổ phụ Abraham của dân Do Thái (xem Khởi Nguyên 15:18-21). Ngài còn lập lại lời hứa này với con ông là Isaac (xem Khởi Nguyên 26:3) cũng như với cháu ông là Giacóp (xem Khởi Nguyên 28:13). Đất Hứa này là nơi chính Thiên Chúa cũng đã dẫn vị tổ phụ đầu tiên này của dân Do Thái đến đó ở trước (xem Khởi Nguyên 12:7 và 15:7), cho tới khi nạn đói xẩy ra khắp vùng, khiến tổ phụ Giacóp cùng con cháu tất cả là 70 người kéo nhau sang Ai Cập (xem Khởi Nguyên đoạn 46), ở đó suốt một thời gian 430 năm (xem Xuất Hành 12:40).

Khi vào được Đất Hứa, đối với dân Do Thái, trước hết, là như vào được miền đất hoàn toàn tự do, miền đầt thuộc về họ, miền đất do chính họ làm chủ, khác hẳn với miền đất Ai Cập mà họ đã từng sống như nô lệ và thật sự là làm nô lệ trong thời điểm trước khi ra đi 40 năm trước, bởi thế, ngay đầu Bài Đọc 1: "Chúa phán cùng Giosuê rằng: 'Hôm nay, Ta đã cất sự dơ nhớp của Ai-cập khỏi các ngươi!'" 

Khi dân Do Thái ra khỏi đất Ai Cập vào thời điểm làm nên chính Lễ Vượt Qua đầu tiên của họ thế nào, ngày 14 Tháng Giêng theo niên lịch của dân tộc này, thì khi vào tới Đất Hứa họ cũng ở vào thời điểm Lễ Vượt Qua ban đầu như vậy, một biến cố quan trọng nhất trong lịch sử cứu độ của họ mà họ lần đầu tiên cử hành tại chính Đất Hứa, như Bài Đọc 1 hôm nay thuật lại: "Con cái Israel tạm trú tại Galgali và mừng Lễ Vượt Qua vào ban chiều ngày mười bốn trong tháng, trên cánh đồng Giêricô".

Tuy đã vào được Đất Hứa, nhưng dân Do Thái chỉ bắt đầu sinh sống tự lập như một dân tộc ở địa phương mới này sau Lễ Vượt Qua đầu tiên của họ mà thôi, ở chỗ họ không còn lệ thuộc vào manna từ trời xuống là lương thực hằng ngày đã nuôi dưỡng họ suốt 40 năm trường trong sa mạc, mà là nhờ các thổ sản của chính Đất Hứa, như các chi tiết cuối cùng của Bài Đọc 1 cho biết:

"Ngày hôm sau Lễ Vượt Qua, họ ăn các thức ăn địa phương, bánh không men và lúa mạch gặt năm ấy. Từ khi họ ăn các thức ăn địa phương, thì không có manna nữa. Và con cái Israel không còn ăn manna nữa, nhưng họ ăn thổ sản năm đó của xứ Canaan".

Đó là lý do tâm tình tri ân cảm tạ và ngợi khen chúc tụng Thiên Chúa của Bài Đáp Ca hôm nay cũng chính là của dân Do Thái lúc bấy giờ, ở vào thời điểm lịch sử cứu độ tiến sang một kỷ nguyên mới, hoàn toàn mới, một kỷ nguyên cho thấy họ thật sự chẳng những là một dân tộc mà còn là một quốc gia nữa, có một quê hương xứ sở đất nước đàng hoàng làm nơi cư trú về địa dư như tất cả mọi dân tộc khác trên trái đất này:

1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. 

2) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ.

3) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn.

Nếu ngay sau nguyên tội Thiên Chúa đã tự động hứa cứu chuộc loài người (xem Khởi Nguyên 3:15) thì phải chăng Đức Kitô Thiên Sai Cứu Thế, nơi nhân tính của Người cũng như nơi Giáo Hội Nhiệm Thể Người, là chính Đất Hứa của / cho một dân tộc mới, mảnh "đất chảy sữa và mật" (Khởi Nguyên 33:3; Xuất Hành 3:8), ám chỉ  "đầy ân sủng ("sữa") và chân lý ("mật")", xuất phát từ "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta, người Con duy nhất đến từ Cha..." (Gioan 1:14).

Thật vậy, nhờ cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô nơi Phép Rửa (xem Roma 6:1-7), Kitô hữu đã cùng với Chúa Kitô "vượt qua sự chết mà vào sự sống" (Gioan 5:24), nghĩa là, đã được vào Đất Hứa của Chúa Kitô, tức đã hiệp thông nên một với Chúa Kitô, qua Nhiệm Thể Giáo Hội của Người, như Thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại đã diễn tả như thế trong Bài Đọc 2 hôm nay: "Nếu ai ở trong Ðức Kitô, thì người đó sẽ là một thụ tạo mới, những gì là cũ đã qua đi: này đây tất cả mọi sự đã trở thành mới". 

Nhờ Phép Rửa con người được biến đổi trong Đất Hứa của Chúa Kitô là Giáo Hội Nhiệm Thể Người thành "một thụ tạo mới" và "tất cả mọi sự đã trở thành mới" đây có thể nói đã được báo trước và ám chỉ nơi trường hợp của dân Do Thái, một dân tộc đã sống một cuộc sống hoàn toàn mới mẻ trong Đất Hứa, bằng những con người mới, được sinh ra sau khi ra khỏi Ai Cập, không còn một con người cũ nào từ Ai Cập, bao gồm cả Moisen, ngoại trừ 2 con người duy nhất là Calep và Giodue thay Moisen (xem Dân Số 14:21-24,30; 20:12).

Hãy tưởng tượng mà xem đoạn đường 40 năm sa mạc mà dân Do Thái hành trình từ Ai Cập, nhất là từ sau khi vượt qua Biển Đỏ về Đất Hứa đã trở thành một nghĩa trang vĩ đại nhất thế giới, nơi đã chôn xác của cả 2-3 triệu người Do Thái, một vùng sa mạc có thể nói là quê hương của thế hệ Do Thái vượt qua.

Như dân Do Thái, nếu không nhờ Thiên Chúa, qua Moisen, giải thoát họ khỏi Ai Cập, họ sẽ không bao giờ có thể vượt qua tình trạng nô lệ mà vào sự sống tự do trong Đất Hứa thế nào, thì Kitô hữu cũng không thể nào được trở thành chi thể của Giáo Hội, thuộc về Giáo Hội, sống trong Đất Hứa Giáo Hội, nếu không được Thiên Chúa cứu chuộc nơi Chúa Giêsu Kitô Thiên Sai Cứu Thế Con Ngài, đúng như Thánh Phaolô đã xác tín trong Bài Đọc 2 hôm nay liên quan đến thừa tác vụ của Giáo Hội nơi thành phần thừa tác viên như ngài:

"Vì mọi sự bởi Thiên Chúa, Ðấng đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình, và trao phó cho chúng tôi chức vụ giao hoà. Thật vậy, Thiên Chúa là Ðấng giao hoà thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô, nên không kể chi đến tội lỗi của loài người, và đặt lên môi miệng chúng tôi lời giao hoà. Nên chúng tôi là sứ giả thay mặt Ðức Kitô, như chính Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo. Vì Ðức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa".

Đúng thế, trong việc cứu chuộc con người, Thiên Chúa đóng vai chủ động chứ không phải là con người. Điển hình là trường hợp của dân Cựu Ước Do Thái giáo trong việc giải thoát họ khỏi thân phận làm tôi ở nước Ai Cập mà đưa họ vào miền Đất Hứa tự do. Hay trường hợp dân Tân Ước Kitô giáo, hầu hết làm nên bởi các dân ngoại, trong việc giải thoát họ khỏi tội lỗi và sự chết bằng chính Chúa Giêsu Kitô là Đấng Thiên Sai Con Ngài. 

Đó là lý do trong Bài Đọc 2 hôm nay, Thánh Phaolô đã nhận thức rất chính xác là "Thiên Chúa là Ðấng giao hòa thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô". Tại saocon người tội lỗi đã xúc phạm đến Thiên Chúa đáng lẽ phải tự động đến làm hòa, đến xin lỗi Thiên Chúa mới phải, mới hợp lẽ công bằng, hợp hợp tình hợp lý theo trần gian, đằng này chính Ngài lại đến làm hòa với loài người tội nhân? Ôi, lòng thương xót Chúa... Chúng con không thể nào hiểu được ở tầm mức loài người chúng con!

Thiên Chúa giao hòa với loài người phạm nhân của Ngài, thậm chí, còn ở chỗ nếu con người mà hiểu được và cảm thấu được tất cả mầu nhiệm lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa chắc không thể nào không điên lên, không mất trí, một lòng thương xót, như Thánh Phaolô, cũng trong Bài Đọc 2, đã dám nói mà không sợ bị rối đạo và lạc đạo, đó là "Ðức Kitô... Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa đã biến thành tội - who has no sin to become sin / who did not know sin to be sin - vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa".

Bởi thế, trước tình yêu vô cùng nhân hậu của Vị Thiên Chúa nạn nhân đã bị loài người xúc phạm song đã tự động tìm cách làm hòa với phạm nhân của mình, bằng cách biến Người Con vô cùng thánh hảo yêu quí của mình trở thành tội lỗi, một sự dữ không thể nào có nơi Thiên Chúa và  không thể nào chấp nhận đối với Thiên Chúa, nhưng Vị Thiên Chúa nạn nhân  lại muốn chồng chất tất cả  lên nhân tính được Người Con mặc lấy và vượt qua, như thể nhuộm đen cả nhân tính vô tội và thánh hảo của Người, để nhờ Người biến hình sự dữ tội lỗi của con người thành ân sủng của lòng thương xót Chúa, mà Thánh Phaolô đã tha thiết kêu gọi Kitô hữu Giáo đoàn Corinto thời ấy, cũng như mọi thời đại sau này, là "chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa".

Bài Phúc Âm hôm nay, một bài Phúc Âm đã được Giáo Hội chọn đọc cho ngày Thứ Bảy Tuần 2 Mùa Chay, Chia sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Mùa Chay Tuần 2 (21-27/2/2016), vì nội dung của bài Phúc Âm hôm nay là một dụ ngôn cho thấy 2 điều chính yếu: 1- Thiên Chúa quả thực là Đấng đã hòa giải với tội nhân trước, và 2- chỉ bao giờ ở trong nhà với Ngài mới được hạnh phúc như ở trong Đất Hứa vậy.

Trước hết, dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy Thiên Chúa là Đấng đã giao hòa trước. Không phải hay sao, người cha có hai người con trai trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay đã cho thấy rõ điều ấy. 

Người cha trong dụ ngôn đã không làm hòa trước là gì với người con hoang đàng phung phá hay sao, ở chỗ, "Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu", trước khi chính nó lên tiếng xin lỗi ông và xin ông tha thứ cho nó: "Người con trai lúc đó thưa rằng: 'Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa'". 

Bởi ông đã tha cho nó ngay khi nó có ý định xin ông chia gia tài cho nó và ngay cả trước khi nó bỏ ông mà đi, vì ông không bao giờ chấp nhất nó, thậm chí còn tìm dịp để tha cho nó, và thật là hớn hở khi chộp được cơ hội ngọc ngà hiếm quý để tha thứ cho nó, chỉ muốn chứng tỏ cho nó càng ngày càng thấy được ông yêu thương nó là chừng nào, một tình yêu thương vô cùng nhân hậu nó không thể nào hiểu được. Việc người con hoang đàng phung phá có thể làm hòa với cha của nó, như Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, chỉ xẩy ra sau khi Người cha đã bày tỏ cử chỉ hân hoan hớn hở được làm hòa với nó trước. 

Sau nữa, trong cùng dụ ngôn làm hòa hay hòa giải tuyệt vời này, người cha chẳng những tự động hòa giải với người con hoang đàng phung phá mà còn với cả người con không bỏ ông mà đi như đứa con hoang đàng phung phá kia nữa, người con cho rằng "đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào", thế màcuối cùng những gì đã xẩy ra? 

Vào chính lúc mọi người đang xum vầy trong nhà cha, ăn mừng người con hoang đàng phung phá như "đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy", thì người con tự cho mình là ngoan ngoan trung thành của cha lại bỏ cha mà đi, bằng cách, nhất định không chịu vào trong nhà với cha và em của mình, trái lại, muốn tách mình ra khỏi mối hiệp thông yêu thương, hiệp thông sự sống, đến độ, "Cha anh ra xin anh vào" hiệp thông với chung gia đình. 

Cử chỉ và hành vi "Cha anh ra xin anh ta vào", không phải hay sao, là chính tác động Thiên Chúa tự đến làm hòa với loài người, tức là việc "Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1Timotheu 2:4), muốn mời gọi nhất là những con người lầm lạc như người con bề ngoài ở nhà với cha mà lại chẳng hiểu cha gì hết, chẳng biết rằng "tất cả mọi sự của cha đều là của con", bởi thế nên làm gì cho cha cũng làm như một người đầy tớ "hầu hạ cha", đòi được trả công xứng đáng: "không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ", hơn là một người con chỉ làm vì cha muốn và cho cha được như ý, coi việc của cha và của cải của cha là của mình.

Trong cả hai trường hợp, của cả hai người con, một khi ở ngoài nhà của cha, sẽ không bao giờ được hạnh phúc. Trường hợp của người con hoang đàng phung phá cuối cùng phải trở về nhà cha, trở về hiệp thông với cha, mới tìm được sự sống chân thực và viên mãn. Còn người con không bỏ cha mà đi, tức còn ở nhà với cha về thể lý theo bề ngoài, một khi không vào nhà của cha mình nữa cũng thế, nghĩa là muốn hoàn toàn tách mình ra khỏi cuộc hiệp thông với cha, đã trở thành một con chiên lạc, lẻ loi cô độc một mình, rất dễ bị sói dữ ăn thịt mất xác. 

Nhà Cha đây, mà Đất Hứa của dân Do Thái là hình bóng tiên báo, trước hết và trên hết ám chỉ mối hiệp thông thần linh với Thiên Chúa, sau nữa ám chỉ nhân tính Chúa Kitô nói chung và thân xác của Người nói riêng, và sau hết ám chỉ Giáo Hội Nhiệm Thể Chúa Kitô là bí tích và là dấu chỉ hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp nhất với loài người (xem Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen Gentium Ánh Sáng Muôn Dân - 1).

Chính vì Nhà Cha là đích điểm của cuộc sống trần gian của con người nói chung và của cuộc hành trình đức tin Kitô hữu nói riêng, là khát vọng build-in - bẩm sinh sẵn có trong lòng con người, mà người con hoang đàng phung phá trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay, khi đã tới tận cùng khốn nạn của cuộc đời, đã thấy được tất cả sự thật không thể chối cãi và không thể rời xa: "Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói". Bởi thế và từ đó, người con đã dứt khoát tiến đến chỗ: "Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi".

Chẳng những quyết định trong lòng, người con hoang đàng phung phá này còn thực sự tỏ ra bằng hành động cụ thể bên ngoài nữa: "Vậy nó ra đi và trở về với cha nó". Nghĩa là, nó muốn làm hòa cùng cha của nó, một hành động cho thấy nó chẳng những nhận lỗi trong lòng sau khi nó cảm thấy hối hận vì đã bỏ cha mà đi: "con đã lỗi phạm đến trời và đến cha...", mà còn xin lỗi ngoài miệng nữa sau khi nó lại được gặp mặt người cha vô cùng nhân hậu của nó: "Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa".

Thế nhưng, việc người con hoang đàng phung phá hòa giải với cha của nó chỉ xẩy ra sau khi cha của nó hòa giải với nó, không bao giờ chấp nhất nó, hằng tha thứ cho nó ngay cả trước khi nó xúc phạm đến ông, thậm chí còn vui vẻ tìm dịp để tha thứ cho nó, như được tỏ ra trong dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay: "Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu". 

Cảnh cha con trọng dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay hòa giải với nhau đã xẩy ra đúng như những gì được Thánh Phaolô đã trải qua, cảm nhận và vì thế đã được ngài sử dụng để khuyên Kitô hữu Giáo đoàn Corinto trong Bài Đọc 1 hôm nay: 

1- Thiên Chúa nạn nhân hòa giải với con người phạm nhân tội lỗi trước: "Vì mọi sự bởi Thiên Chúa, Ðấng đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình, và trao phó cho chúng tôi chức vụ giao hoà. Thật vậy, Thiên Chúa là Ðấng giao hoà thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô, nên không kể chi đến tội lỗi của loài người, và đặt lên môi miệng chúng tôi lời giao hoà".

2- Loài người phạm nhân nhờ đó và từ đó mới có thể hòa giải với Vị Thiên Chúa nạn nhân của mình: "Nên chúng tôi là sứ giả thay mặt Ðức Kitô, như chính Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo. Vì Ðức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa".